Tháng 09, 2019
Thứ hai
Thứ Ba, ngày 14/07/2020 17:40 PM (GMT+7)

Người đi tìm sử thi

Hiếm ai có một hành trình khoa học lạ như hành trình đi tìm sử thi của GS.TSKH Phan Đăng Nhật. Ông đã dành cả cuộc đời để đi tìm sử thi và giải mã vẻ đẹp của nó.

Tôi đã nhiều lần được trò chuyện với GS.TSKH Phan Đăng Nhật tại nhà riêng, trong con ngõ sâu thẳm của đường Cầu Giấy, Hà Nội. Căn phòng làm việc, nhưng cũng là phòng ngủ của ông luôn bật một bóng đèn bàn.

Lần nào cũng vậy, khi lên tới tầng 3 và gõ cửa, tôi đều không nghe tiếng ông trả lời. Đẩy cánh cửa khép hờ, tôi cất lời chào nhưng ông vẫn lặng thinh. Tiến tới thật gần, chào lại lần nữa ông mới nghe thấy, quay lại cười thật tươi: “Chào cậu”. Xung quanh ông chỉ thấy sách, tài liệu, mà chủ yếu liên quan đến sử học, văn hóa dân gian, sử thư… Nhiều lần như thế, tôi phần nào hiểu được nỗi niềm của một nhà khoa học già, nhưng vẫn miệt mài với những con chữ, vẫn nặng lòng với văn hóa, với sử thi.

Người đi tìm sử thi - 1

GS.TSKH Phan Đăng Nhật. Ảnh: Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam

Trước khi trở thành một nhà nghiên cứu văn hóa, Phan Đăng Nhật từng nhiều năm là giáo viên phổ thông ở Nghệ An, rồi Tây Bắc. Vài năm ở Tây Bắc, núi rừng, cảnh vật và con người nơi ấy đã trở nên thân thuộc và gắn bó. Nhưng có lẽ duyên với nghề giáo của ông chỉ có vậy. Do có thành tích trong công tác, năm 1967, ông được cử về Hà Nội để chuẩn bị đi học ở Liên Xô. Nhưng vì chưa phải là đảng viên nên việc ấy phải dừng lại. Chẳng hề hấn gì và cũng chẳng sao, theo ông là vậy. Trái lại, đó là cái may, là bước ngoặt vì nhờ có đó, ông mới chuyển sang nghề nghiên cứu.

Hồi ở Tây Bắc về, ông được theo học lớp chuyên tu về tâm lý giáo dục ở trường ĐH Sư phạm Hà Nội, khi ấy sơ tán ở Phù Cừ, Hưng Yên. “Sau khi sơ tán ở Phù Cừ, tôi học xong lớp chuyên đề tâm lý giáo dục thì người ta cử tôi đi dạy sư phạm trung cấp ở Thường Tín, Hà Đông”[1]. Ông phân vân, suy nghĩ và nhất quyết không về Hà Đông. Ông quyết tâm phải bám Hà Nội, vì đó là nơi tụ hội anh tài, có cơ hội phát triển hơn.

Nhưng ở lại Hà Nội thì cơ quan, đơn vị nào nhận ông về công tác? May mắn là ông Nông Quốc Chấn, Vụ trưởng Vụ Văn hóa các dân tộc thiểu số biết Phan Đăng Nhật từng làm việc ở Tây Bắc nên nhận về để theo dõi phong trào văn hóa của các dân tộc thiểu số.

Khoảng năm 1968, Nhà nước chủ trương tổ chức biên soạn một số cuốn sách lớn là lịch sử văn học, lịch sử, ngữ pháp, từ điển... Khi viết lịch sử văn học thì có một số ý kiến (đứng đầu là ông Hà Huy Giáp, Bí thư Đảng ủy Bộ Văn hóa) cho rằng cần phải có văn học các dân tộc thiểu số. Một số ý kiến cho rằng chưa nên đưa văn học dân tộc thiểu số vào vì đặt vấn đề là văn học thiểu số có gì, ai sẽ là người viết những nội dung đó? Hai câu hỏi rất đúng vì có văn học thiểu số nhưng ai sưu tầm, ai viết. Cuối cùng, quan điểm cho rằng phải có văn học thiểu số chiếm ưu thế.

GS Phan Đăng Nhật chia sẻ: “Tôi được anh Nông Quốc Chấn đưa vào ban viết lịch sử văn học. Đó là cơ hội rất may cho tôi để đi vào văn học. Lúc đó tôi là tép riu, có ai biết tôi đâu, mà mình đã làm gì đâu mà người ta biết. May là có nhu cầu phải có người giúp anh Chấn, hỗ trợ anh Chấn thì tôi là người đó. Từ đó (1968) tôi đi theo anh Chấn độ hơn một năm ở Vụ Văn hóa các dân tộc thiểu số. Ông ấy đi đâu mình đi theo”[2].

Trong quá trình làm cuốn lịch sử văn học Việt Nam, Phan Đăng Nhật chuyển sang công tác ở tổ Văn học dân gian, thuộc Viện Văn học. Ông cho biết, Viện Văn học chủ yếu làm về văn học bác học, chỉ có một bộ phận nhỏ, tổ Văn học dân gian do ông Cao Huy Đỉnh đứng đầu là nghiên cứu về văn học dân gian.

“Tôi còn nhớ lời dặn của ông Đỉnh: “Chúng ta đừng ném vào lâu đài khoa học những tảng bùn mà cố gắng đặt vào những viên sỏi rắn chắc”. Câu nói khuyến khích chúng tôi làm việc thận trọng hơn”[3], GS Phan Đăng Nhật nhớ lại.

Viện Văn hóa Dân gian được thành lập trên cơ sở Ban Văn hóa Dân gian, trực thuộc Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam. Ban Văn hóa Dân gian tồn tại trong khoảng 3 năm. Đến ngày 9/9/1983, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ký quyết định thành lập Viện Văn hoá dân gian trên cơ sở Ban Văn hoá dân gian. Viện do ông Đinh Gia Khánh là Viện trưởng, ông Phan Đăng Nhật là Phó viện trưởng.

Vào những năm 1960, ở nước ta, chưa ai nhắc đến anh hùng ca, sử thi. Nhưng với vốn kiến thức học hỏi được và thực tế trong quá trình công tác, ông tin rằng Việt Nam có sử thi và quyết tâm tìm bằng được sử thi.

Người đi tìm sử thi - 2

GS.TSKH Phan Đăng Nhật được giới nghiên cứu văn hóa tôn vinh là nhà nghiên cứu hàng đầu về sử thi

Cùng với nhà nghiên cứu Cầm Trọng, ông tìm đến một tác phẩm văn học dân gian nổi tiếng lưu truyền trong đồng bào Thái có tên là “Chương Han”. Mặc dù tài liệu chưa thu thập đầy đủ nhưng ông có niềm tin rằng chính là sử thi. GS Phan Đăng Nhật cho biết, ông không đi tìm sử thi của riêng người Việt, mà tìm sử thi trong vốn văn học dân gian của tất cả các dân tộc. Hướng đi của ông là tìm về miền núi, vùng dân tộc thiểu số.

Đầu những năm 70, Phan Đăng Nhật tìm về Thanh Hoá, hỗ trợ nhà nghiên cứu Vương Anh sưu tầm “Đẻ đất đẻ nước”. Theo ông, hồi ấy không ai nghĩ đó là sử thi vì nó khác hẳn Ilyade Odyssée - sử thi kiểu mẫu của thế giới. Nhưng trong báo cáo khoa học năm 1974, Phan Đăng Nhật mạnh dạn xác định “Đẻ đất đẻ nước” là sử thi. Sau này, điều đó đã được khẳng định là đúng đắn.

Sau ngày đất nước thống nhất, Phan Đăng Nhật hăm hở vào Tây Nguyên để tìm sử thi. Không chùn bước trước bom mìn còn rớt lại của chiến tranh, chẳng sợ mối nguy hiểm bất chợt từ Fulro, ông vẫn tới Kon Tum, Đắc Lắc… rồi xuống Phan Rang để tìm dấu vết của sử thi. Tiếp cận được với những tài liệu còn lưu giữ tại Phan Rang, ông đã khám phá những dấu vết của sử thi Chăm.

Đến năm 1978, Phan Đăng Nhật tổ chức một đoàn sưu tầm văn hoá dân gian (có các ông Trần Lâm Biền, Nông Quốc Thắng tham gia), lên Gia Lai, về tận vùng Ya Yunpa để nghiên cứu, sưu tầm. Nhiều lần ốm sốt, phải chống gậy để đi nhưng ông vẫn không nản chí, quyết tâm vượt qua những khó khăn trước mắt để vun đắp niềm đam mê sử thi. Lúc này, đường đi vẫn đầy di vật chiến tranh - ô tô, mũ sắt, thắt lưng, giày lính.

Sau năm 1983, Phan Đăng Nhật huy động hầu như toàn Ban Văn hóa Dân gian tham gia một đợt sưu tầm văn hoá dân gian ở Đắc Lắc. Ông sung sướng khi gặp áng sử thi đầu tiên, rồi những áng sử thi tiếp theo như Đăm Săn, Khinh Dú... được phát hiện trong các buôn làng Tây Nguyên.

Tài liệu của đợt sưu tầm ấy là cơ sở để Phan Đăng Nhật viết luận án tiến sĩ bảo vệ năm 1989 ở Bulgaria và viết tác phẩm “Sử thi Ê đê”, xuất bản năm 1991. Luận án cũng như tác phẩm của Phan Đăng Nhật được đánh giá cao. GS.TS N.I. Niculin, một chuyên gia về văn học Việt Nam của Liên Xô cho rằng “công trình khảo cứu nổi tiếng Sử thi Ê Đê của Phan Đăng Nhật có ý nghĩa khó có thể đánh giá được hết”[4].

Tác phẩn “Đăm Săn” của dân tộc Êđê do L. Xabachiê (người Pháp từng sống và làm việc ở Tây Nguyên) sưu tầm được mấy thập kỷ trước luôn khích lệ Phan Đăng Nhật đi sâu hơn nữa vào đời sống đồng bào bản địa. Năm 1995, ông đăng ký đề tài cấp Bộ “Vùng sử thi Tây Nguyên” rồi chủ trì thực hiện.

Ông cùng cán bộ nghiên cứu về các vùng sử thi ở miền Trung, về Nu Păng, Đồng Xuân (Phú Yên... Đến với đồng bào Raglai, nơi mà mọi người chưa hề nghĩ có sử thi, Phan Đăng Nhật khẳng định Uđai Ujà là sử thi, động viên một số người sưu tầm và dịch tác phẩm này. Tới khi Dự án sử thi của Nhà nước được thực hiện, 622 sử thi được sưu tầm ở vùng Tây Nguyên và phụ cận, thì quan điểm của Phan Đăng Nhật về “vùng sử thi Tây Nguyên” đã được minh chứng.

Thành công với nghiên cứu và sưu tầm về sử thi Tây Nguyên, nhưng Phan Đăng Nhật vẫn không nguôi tình yêu đầu đời với sử thi của dân tộc Thái Tây Bắc “Chương Han”. May mắn, ông được một người tên là Nguyễn Hữu Ưng giúp khi giao cho bản “Chương Han” còn giữ được của anh vợ. Dẫu vậy, đây chỉ là bản dịch ra tiếng Việt, dày khoảng 100 trang, không có bản gốc tiếng Thái. Với ngần ấy không thể ra sách nên ông Nhật đã bổ sung thêm và nhờ Viện Đông Nam Á xuất bản, sử thi Chương Han bắt đầu ra mắt độc giả toàn quốc.

Năm 2002, khi nghiên cứu ở Quỳ Châu (Nghệ An), Phan Đăng Nhật phát hiện được sử thi “Khủn Chưởng”. Phát hiện được dấu vết, nhưng phải mất vài năm lặn lội đến khắp hang cùng ngõ hẻm, ông mới sưu tầm hoàn chỉnh sử thi “Khủn Chưởng” và xuất bản thành sách “Khủn Chưởng - Anh hùng ca Thái” (Nxb Khoa học xã hội, 2005), dày 800 trang khổ lớn, in bản dịch tiếng Việt kèm theo bản chữ Thái cổ.

“Khủn Chưởng - Anh hùng ca Thái” của Phan Đăng Nhật là đỉnh cao về sách sử thi của ông, về các mặt tri thức, phương pháp sưu tầm, phương pháp nghiên cứu, phương pháp trả lại cho nhân dân những giá trị do chính họ sáng tạo nên. Sách được hai giải thưởng Quốc gia về sách, sách đẹp và sách hay.

Nghiên cứu về nhóm sử thi/anh hùng ca, GS Phan Đăng Nhật đã có một số đóng góp không nhỏ. Thứ nhất, dựa vào sử thi/anh hùng ca trong và ngoài nước, ông đã tổng hợp lại thuộc tính của sử thi, có giá trị định hướng việc sưu tầm và nghiên cứu sử thi /anh hùng ca. Thứ hai, ông đã tiếp thu lựa chọn để đề xuất phân loại sử thi các dân tộc Việt Nam theo hai góc nhìn: thời kỳ ra đời: sử thi cổ sơ và sử thi cổ điển; nội dung đề tài: sử thi sáng thế/sáng tạo thế giới và sử thi thiết chế xã hội…

GS Phan Đăng Nhật từng chia sẻ một cách khiêm tốn, chân thành: “Đời tôi, không cày ruộng, không đi buôn, không kinh doanh được, có làm Viện trưởng, nghĩa là quản lý, nhưng không xuất sắc, chủ yếu là dạy học và làm khoa học. Khoa học của tôi là khoa học xã hội, gọi đùa là “khóa hóc xả hơi”, nghĩa là không ở mũi nhọn của cuộc sống, không có sản phẩm vật chất, như lúa gạo, máy móc, chỉ có công trình nghiên cứu”. Mặc dầu vậy, những di sản ông để lại có ý nghĩa không hề nhỏ, nhất là về sử thi, đã tạo ra tiền đề, cơ sở cho các nhà nghiên cứu thế hệ sau tiếp tục hoàn thiện, bổ sung.

Năm 1974, Phan Đăng Nhật có bài viết đầu tiên về sử thi công bố trên một tạp chí khoa học. Đến năm 1991, ông cho in cuốn sách Sử thi Êđê (Nxb Khoa học xã hội), là kết quả của nhiều năm nghiên cứu và từ cuốn luận án tiến sĩ bảo vệ năm 1989 ở Bulgaria. Năm 1999, ông tiếp tục cho ra đời một công trình gây tiếng vang không kém là Vùng sử thi Tây Nguyên (Nxb Khoa học xã hội).

Sau này, ông tiếp tục cho ra nhiều công trình nghiên cứu về sử thi/anh hùng ca gồm: Nghiên cứu sử thi Việt Nam (Nxb Khoa học xã hội, 2002), Chương Han - Sử thi Thái (đồng chủ biên với Nguyễn Ngọc Tuấn) (Nxb Khoa học xã hội, 2003), Khủn Chưởng - Anh hùng ca Thái (Nxb Khoa học xã hội, 2005), Sử thi Tây Nguyên và cuộc sống đương đại (Đồng Chủ biên với TS Chu Xuân Giao) (Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2010), Góp phần tìm hiểu sử thi/anh hùng ca Việt Nam (Nxb Khoa học xã hội, 2015).

---------------------------

[1][2],[3][4]  Tài liệu ghi âm GS.TSKH Phan Đăng Nhật, 5/12/2018.

Từ Sơn

Tin đọc nhiều

Lò đốt chất thải công nghiệp đầu tiên của Việt Nam Lò đốt chất thải công nghiệp nguy hại đầu tiên ở Việt Nam do...
Thế nào là báo lá cải? Chức năng cao nhất của báo chí dù "tà" hay "chính" vẫn là cung...
Pin chết, vứt ở đâu? Tháng trước, sau khi thay pin đồng hồ, tôi băn khoăn không...
Steve Jobs: Ông tổ máy tính cá nhân? Cuộc đời Steve Jobs như khẳng định một lần nữa châm ngôn:...