Tháng 09, 2019
Thứ hai
Thứ Tư, ngày 09/10/2019 15:36 PM (GMT+7)

Tập bản thảo hiếm về chương trình nghiên cứu địa chất biển đầu tiên ở Việt Nam

“Cái này quý lắm, tư liệu này rất quý đối với mình!”. Không dưới ba lần, GS Lê Đức An nhắc lại câu nói ấy trong khi say sưa kể câu chuyện liên quan đến tập bản thảo này.

Chương trình Điều tra tổng hợp vùng biển Thuận Hải - Minh Hải (Thuận Hải nay là hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, Minh Hải nay là hai tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu) là chương trình nghiên cứu về biển đầu tiên ở nước ta kể từ sau khi giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước. Thuộc chương trình này, bản thảo báo cáo kết quả đề tài Đặc điểm địa mạo đới ven biển Thuận Hải - Minh Hải có lẽ là tài liệu hiếm hoi còn lại đến nay, minh chứng cho những nỗ lực nghiên cứu của một tập thể các nhà khoa học địa chất-địa mạo và những gian khó mà họ đã trải qua.

“Thời bọn mình còn khó khăn lắm”

Cầm trên tay tập bản thảo viết tay đã cũ kỹ, giấy đã mủn và ố vàng qua thời gian, GS.TSKH Lê Đức An (nguyên Viện trưởng Viện Địa lý, Viện Hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam) nói với chúng tôi: “Các bạn thấy đấy, thời bọn mình còn khó khăn lắm, đến giấy cũng chẳng có mà viết!”. Tập bản thảo được ông cất kỹ trong chiếc cặp bìa có buộc dây chắc chắn, bên ngoài ghi vỏn vẹn mấy chữ: “Chương trình biển”. Đã lâu, nó nằm yên ở một góc tủ của phòng Địa mạo, Viện Địa lý, nay mới được lục ra.

Khi nhìn thấy bản thảo, chủ nhân của nó im lặng trong giây lát vì xúc động, rồi ông thốt ra: “Cái này quý lắm, tư liệu này rất quý đối với mình!”. Không dưới ba lần, GS Lê Đức An nhắc lại câu nói ấy trong khi say sưa kể câu chuyện liên quan đến tập bản thảo này.

Tập bản thảo hiếm về chương trình nghiên cứu địa chất biển đầu tiên ở Việt Nam - 1

Bản thảo đề tài nghiên cứu đầu tiên về địa mạo vùng ven biển Thuận Hải - Minh Hải.

Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc (1954), nhà nước chủ trương xây dựng bản đồ địa chất toàn miền Bắc tỉ lệ 1/500.000. Với sự giúp đỡ và hướng dẫn của các chuyên gia Liên Xô, nhiều cán bộ, nhà khoa học Việt Nam đã tham gia thành lập bản đồ ấy, tiêu biểu phải kể đến những đóng góp của GS Nguyễn Văn Chiển - Chủ nhiệm khoa Mỏ-Địa chất, trường Bách khoa Hà Nội. Sau khi đất nước thống nhất, yêu cầu xây dựng bản đồ địa chất toàn miền Nam ở tỉ lệ 1/500.000 được đặt ra. Đoàn 500 (thuộc Liên đoàn Bản đồ, Tổng cục Địa chất) được giao nhiệm vụ đo vẽ và lập bản đồ này.

Đầu năm 1976, sau khi ăn Tết xong, PTS Lê Đức An cùng với nhiều cán bộ của Đoàn 500 thu xếp hành lý, đồ đạc để vào Nam công tác. Đoàn 500 có các đội nghiên cứu về địa tầng, magma, khoáng sản, trọng sa, địa mạo-đệ tứ-vỏ phong hóa. Đội Địa mạo-đệ tứ-vỏ phong hóa do PTS Lê Đức An làm đội trưởng có nhiệm vụ nghiên cứu địa mạo, trầm tích đệ tứ và vỏ phong hóa toàn miền Nam.

GS.TSKH Lê Đức An không thể quên, hồi ấy mỗi lần đi công tác dường như là một lần chuyển nhà, vì phải chuyển cả hộ khẩu. Chúng tôi thuộc lớp hậu sinh, không thể hiểu được điều đó nên đã hỏi lại và được ông khẳng định: “Đúng là chuyển hộ khẩu, vì không chuyển thì làm gì có gạo mà ăn!”. Là cán bộ địa chất nên cuộc sống cứ như con chim, nay đây mai đó, đến đâu cũng là nhà, và nơi nào đặt chân đến cũng đầy ắp kỷ niệm, cả vui lẫn buồn. 

Trong mấy năm từ 1976 đến cuối 1979, ông và các đồng nghiệp di chuyển như thế không biết bao nhiêu lần, tất nhiên là không phải chỉ ở trong Nam, mà cũng có những chuyến ra Bắc rồi lại quay vào, đi nhiều đến nỗi ông không thể nhớ hết số lần đã đi như thế.  Đoàn đi đến đâu thì ở nhờ đó, chỉ dừng chân lâu nhất ở TP.HCM. “Ở đây thì bọn mình ở nhờ một căn nhà 3 tầng tại ấp Tân Trang, gần đường Lý Thường Kiệt. Nơi đó vừa là nơi ăn, ngủ, vừa là nơi làm việc. Nhưng chỉ có mùa mưa thì bọn mình ở đó thôi, còn mùa khô thì lại đi thực địa, lấy mẫu và đo đạc”[1], PTS Lê Đức An chia sẻ.

Khi nhiệm vụ lập bản đồ địa mạo miền Nam đang được thực hiện thì vào năm 1977, Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật nhà nước thành lập một chương trình cấp nhà nước: Điều tra tổng hợp vùng biển Thuận Hải - Minh Hải, do TS Đặng Ngọc Thanh (Viện phó Viện Khoa học Việt Nam) làm chủ nhiệm.

Theo đề nghị của chủ nhiệm chương trình, Liên đoàn Bản đồ đồng ý thực hiện đề tài Đặc điểm địa mạo đới ven biển Thuận Hải - Minh Hải. Đây là đề tài số 7 nằm trong chương trình điều tra tổng hợp vùng biển Thuận Hải - Minh Hải và PTS Lê Đức An được giao thêm việc làm chủ nhiệm đề tài mới phát sinh này.

Tập bản thảo hiếm về chương trình nghiên cứu địa chất biển đầu tiên ở Việt Nam - 2

GS.TSKH Lê Đức An (giữa) và các đồng nghiệp khảo sát địa chất ở Tây Nguyên năm 1976

Để đảm bảo cho bản đồ bao quát được tương đối trọn vẹn các kiểu địa hình ven biển, đề tài xác định phạm vi nghiên cứu là từ mép nước trở vào đất liền khoảng 30-40km, lấy ranh giới trong là đường chia nước giữa cao nguyên Đà Lạt - Di Linh với hệ thống đồng bằng ven biển. Việc nghiên cứu ở Nam Bộ cũng triển khai trên một chiều rộng tương tự. Về giới hạn phía bắc và phía nam, bản đồ bao gồm từ bắc Nha Trang đến hết rừng U Minh. Như vậy, diện tích của vùng vẽ bản đồ là khoảng 25.000km2, thuộc nhiều tỉnh và thành phố lúc đó: Phú Khánh (nay là Phú Yên và Khánh Hòa), Thuận Hải, Đồng Nai, Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng (lúc đó là một phần của tỉnh Hậu Giang), Đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo (Đặc Khu Vũng Tàu - Côn Đảo được thành lập sau 1975, sau đó bị giải tán và thiết lập tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu vào 1991), Minh Hải và một phần tỉnh Kiên Giang.

Có những sự cố xảy ra khi đi thực địa làm cho ông và đồng nghiệp tưởng chừng phải bỏ dở đề tài. Ông kể: “Hôm đó khi đội của mình đang khảo sát vùng cát ven biển vùng Sơn Hải, Ninh Thuận, bỗng nhiên thấy xung quanh súng bắn rất gần, chát chúa như pháo nổ ran. Một lúc sau thấy rất đông người xô đến bao vây, hóa ra là dân quân tự vệ của xã. Hỏi ra thì được biết họ nghi đội của mình vượt biên trái phép. Thực ra bọn mình đã báo cáo về chuyến công tác ở đây với huyện và xã rồi, không biết thế nào mà họ bố trí vây bắt, bắn chỉ thiên rất nhiều để áp đảo. Cũng may người giữ súng của đội chưa kịp trở tay bắn lại, nếu không thì không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Sau chuyện này, mình chán nản quá, định kết thúc, về nghỉ luôn, không làm tiếp nữa!”

Trầm ngâm một lúc ông chậm rãi kể tiếp: “Nhưng những điều kỳ thú về địa mạo-địa chất đệ tứ của vùng cát Thuận Hải đã lại thôi thúc bọn mình bước tiếp, đặc biệt là vấn đề về nguồn gốc sinh thành của các loại cát và sự tạo ra màu sắc của chúng. Nơi đây thật sự là một di sản địa mạo-địa chất quý giá, mà sau này mình đã nhiều lần đề cập đến.”[2]    

Để hoàn thành đề tài này, PTS Lê Đức An và các cộng sự đã đi thực địa tổng cộng khoảng 1.200km, khoan nông tổng cộng 600m (mỗi giếng khoan từ 10 đến 15m), khoan một giếng sâu 480m; phân tích 50 mẫu hóa silicat, 200 mẫu độ hạt, 500 mẫu vi cổ sinh, 40 mẫu bào tử phấn hoa… Tuy nhiên, còn nhiều loại mẫu chưa được phân tích đầy đủ, do không có đủ kinh phí để gửi mẫu sang Liên Xô. Thêm nữa, do chương trình không có bản đồ địa hình, nên nhóm nghiên cứu phải dùng bản đồ mộc của Đoàn 500. 

Theo GS Lê Đức An, đề tài đã thực hiện được nhiệm vụ đo vẽ tới mức độ chi tiết của tỉ lệ 1/500.000, đồng thời bổ sung để nâng cao chất lượng bằng việc đan dày các hành trình thực địa và các nghiên cứu chuyên đề trong phòng thí nghiệm.

Những đề xuất vẫn còn nguyên giá trị

Đề tài triển khai từ năm 1977 và kết thúc năm 1981. Đến ngày 30-6-1981, PTS Lê Đức An đã tập hợp được tất cả báo cáo từ các thành viên trong nhóm để tổng hợp thành bản báo cáo kết quả nghiên cứu của đề tài. Ông cho biết: “Sau khi lấy mẫu, bọn mình phải gửi các mẫu ấy đi phân tích ở Liên đoàn Địa chất và ở các phòng thí nghiệm khác. Sau khi có kết quả mẫu thì mình phải phân tích kết quả, tổng hợp, và từ các số liệu đó gắn với tài liệu khảo sát tổng hợp thành các vấn đề…, viết thành báo cáo này”[3].

Bản thảo báo cáo tổng kết đề tài bao gồm 78 trang viết tay trên giấy thếp kẻ ngang màu nâu nhạt, loại giấy phổ biến thời đó, với ba phần nội dung chính: Khái quát về địa hình, khí hậu và đặc điểm địa chất khu vực; Đặc điểm địa mạo; Những vấn đề địa mạo ứng dụng và các đề nghị. Ngoài báo cáo chính, khi ấy PTS Lê Đức An và các đồng nghiệp còn phải hoàn thành đồng thời nhiều sản phẩm khác để nghiệm thu đề tài, bao gồm: bản đồ địa mạo tỉ lệ 1/500.000; bản đồ các kiểu và dạng địa hình tỉ lệ 1/1.000.000; sơ đồ phân cắt sâu tỉ lệ 1/500.000; sơ đồ phân cắt ngang tỉ lệ 1/500.000; sơ đồ dốc tỉ lệ 1/500.000; các mặt cắt địa chất-địa mạo…

Trong tập bản thảo báo cáo tổng kết đề tài, nhóm nghiên cứu không chỉ trình bày thực trạng, mà còn nêu ra những đề xuất liên quan đến vấn đề địa mạo ứng dụng. 

Nhóm tác giả kiến nghị về 4 vấn đề lớn là: Bảo vệ tài nguyên đất đai và môi trường; Vấn đề sử dụng đất nông nghiệp; Vấn đề xây dựng - giao thông; Vấn đề nước ngọt. Mỗi vấn đề đều vừa có thực trạng, vừa có đề xuất biện pháp giải quyết cụ thể để phục vụ thực tiễn.

Tập bản thảo hiếm về chương trình nghiên cứu địa chất biển đầu tiên ở Việt Nam - 3

GS.TSKH Lê Đức An. Ảnh: Trịnh Văn Bộ/Báo ảnh Việt Nam

Có những vấn đề không chỉ là cần thiết ở thời điểm đó, mà vẫn có giá trị cho đến ngày nay, ví dụ về vấn đề bảo vệ tài nguyên đất đai và môi trường. GS Lê Đức An giải thích, vào thời điểm năm 1981, nhóm nghiên cứu đã chỉ ra một vấn đề quan trọng đặt ra cho lãnh thổ này là khai thác hợp lý và bảo vệ tốt môi trường. “Có thể nói rằng, chúng ta chỉ bảo vệ được môi trường sống khi chúng ta khai thác lãnh thổ hợp lý, phù hợp với các quy luật của tự nhiên”[4]

Các tác giả nhấn mạnh: “Việc xây dựng các cảng phục vụ khai thác và việc chọn địa điểm chế biến dầu khí cần được tính toán và tìm biện pháp khắc phục tốt hiện tượng ô nhiễm nước sông và biển. Theo các quan sát địa mạo ở ven biển, các tích tụ di chuyển chủ yếu về phía tây nam. Nếu ở Vũng Tàu hoặc cửa sông Soi Rạp có nguồn ô nhiễm thì cái đó có thể sẽ gây ảnh hưởng cho cả vùng cửa sông Cửu Long và như vậy là nguồn lợi cửa sông về trồng và nuôi thả sẽ bị đe dọa lớn, trong trường hợp không có biện pháp bảo vệ”[5].

Khi đề xuất về vấn đề sử dụng đất nông nghiệp, PTS Lê Đức An và các đồng nghiệp đã đưa ra khuyến cáo cho từng vùng hay miền đất đặc trưng. Như ở vùng từ Nha Trang đến Vũng Tàu thì nên lưu ý canh tác các loại cây ngoài phù hợp với chất đất còn cần phù hợp với đặc điểm địa hình, độ dốc; ở vùng đồng bằng trầm tích (có diện tích ít) là nơi việc canh tác thuận lợi do đất màu mỡ hơn và không bị xói mòn. Trong quy hoạch phải chú ý đến nguồn gốc của các trầm tích, cụ thể là phải phân biệt đồng bằng do sông và đồng bằng do sông biển hỗn hợp; vùng đất đỏ bazan cần chú ý nhiều biện pháp chống xói mòn và việc chọn các khoảnh đất khi canh tác, cần để lại rừng ở vùng địa hình dạng chóp nón… Trong phần về xây dựng - giao thông hay về nước ngọt, các tác giả cũng chỉ ra những vấn đề chi tiết và khuyến cáo biện pháp sử dụng, khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên. 

Cuối cùng, trong phần kết luận cũng có những ý kiến đề xuất: “Vấn đề động lực phát triển của bờ biển trong mối quan hệ với tân kiến tạo, thủy triều, gió, dòng biển, vật liệu trầm tích ven biển… cần tiếp tục nghiên cứu. Cần xây dựng các trạm quan sát, đo đạc thường xuyên và từng thời kỳ với các trang bị cần thiết để theo dõi các quá trình phát triển của bờ biển, tìm hiểu nguyên nhân của các quá trình đó”[6].

Tập bản thảo hiếm về chương trình nghiên cứu địa chất biển đầu tiên ở Việt Nam - 4

Để vẽ nên những tấm bản đồ, phát hiện ra những mỏ dầu khí, khoáng sản, tài nguyên, các nhà địa chất đã phải đối mặt với sự khắc nghiệt của rừng sâu, sóng gió biển đảo. Những tài liệu, hiện vật quý của các nhà địa chất đang được trưng bày tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam

Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, GS Lê Đức An đóng vai trò chủ chốt trong việc nghiên cứu thực địa, thu thập tài liệu và cũng là người chịu trách nhiệm chính trong việc vẽ bản đồ và viết báo cáo tổng hợp. Những kết quả của đề tài này được báo cáo lên Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật nhà nước, sau đó được đưa vào lưu trữ của Chương trình để cán bộ trong ngành tham khảo, không được công bố rộng rãi hay in ấn và phổ biến. GS Lê Đức An cho rằng điều đó có thể do hạn chế về kinh phí lúc đó và có lẽ một phần là do yêu cầu bảo mật. Sau này, trong một vài bài công bố trên tạp chí, ông có sử dụng một số kết quả nghiên cứu của đề tài này.

Nhấn mạnh về ý nghĩa của nó, ông cho biết: “Công trình này có ý nghĩa mở đầu. Nó là công trình đầu tiên mô tả được địa mạo của một vùng tương đối rộng lớn, theo một phương pháp luận thống nhất. Nó là mở đầu cho những nghiên cứu địa mạo-địa chất đệ tứ chi tiết sau này. Điều tra cơ bản về địa chất nói chung là một quá trình chi tiết hóa dần, cái sau tiếp nối cái trước, cái trước là nền tảng cho cái sau”[7].

Gần 40 năm qua, đã có nhiều chương trình biển tiếp theo được thực hiện và bản thân GS.TSKH Lê Đức An cũng tham gia nhiều chương trình nghiên cứu khoa học khác, nhưng tập bản thảo này vẫn gợi lại những ký ức khiến ông xúc động. Tập bản thảo đã cũ kỹ, nhưng ký ức của ông về những năm gian khó ấy vẫn không bao giờ cũ.

--------------------------------------------

[1]. Hỏi chuyện GS Lê Đức An ngày 11-6-2015.

[2]. Hỏi chuyện GS Lê Đức An ngày 11-6-2015.

[3]. Hỏi chuyện GS Lê Đức An ngày 11-6-2015.

[4]. Phỏng vấn GS.TSKH Lê Đức An ngày 25-3-2015, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam.

[5]. Bản thảo báo cáo Đặc điểm địa mạo đới ven biển Thuận Hải - Minh Hải, tài liệu đã dẫn, tr. 70.

[6]. Bản thảo báo cáo Đặc điểm địa mạo đới ven biển Thuận Hải - Minh Hải, tài liệu đã dẫn , tr. 77.

[7]. Hỏi chuyện GS Lê Đức An ngày 11-6-2015.

Hồng Thanh (Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam)

Tin đọc nhiều

PGS.TS Lê Viết Kim Ba: Nhà khoa học dành cả đời để nghiên cứu màng lọc PGS TS Lê Viết Kim Ba là người đầu tiên ở Việt Nam chế tạo...
TP.HCM: Điểm sáng trong bức tranh khởi nghiệp sáng tạo của cả nước Không chỉ là 'nhà' của gần 50% startup trong nước, TP.HCM còn...
Khai mạc Tuần lễ Đổi mới sáng tạo và Khởi nghiệp TP.HCM 2019 WHISE 2019 được đánh có sức thu hút lớn, có tính quốc tế...
Quay màn hình trên Windows 10 mà không cần phần mềm Nếu đang sử dụng Windows 10, bạn có thể tận dụng nhanh thanh...